Loadding...
Liên kết website
Công tác DS-KHHGĐ tỉnh Bến Tre qua những chặng đường
14:09 | 06/03/2019
Công tác DS-KHHGĐ tỉnh Bến Tre qua những chặng đường
           1. Trước năm 1992

Giai đoạn này tổ chức làm công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS - KHHGĐ) do Sở Y tế quản lý và triển khai các hoạt động sinh đẻ có kế hoạch theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Vào năm 1988 Ủy ban DS-KHHGĐ tỉnh được thành lập theo quyết định 780/UB-QĐ 1212/UB-QĐ ngày 9 tháng 9 năm 1988 của UBND tỉnh. Sau khi bộ máy được thành lập, Tỉnh ủy cũng đã ban hành Chỉ thị 34-CT/TU ngày 24 tháng 01 năm 1989 “Về việc lãnh đạo đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động sinh đẻ có kế họach năm 1989-1990”. Nhiều hoạt động truyền thông, vận động về DS - KHHGĐ tuy có thực hiện nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan nên kết quả đạt thấp, việc huy động toàn xã hội tham gia còn nhiều hạn chế và tổ chức bộ máy chưa thật sự đủ mạnh để quản lý và điều phối các họat động DS - KHHGĐ.

Theo kết quả Tổng điều tra Dân số ngày 01 tháng 4 năm 1989 số con trung bình của một phụ nữ trong diện tuổi sinh đẻ (TFR) là 3,8 con, tỉ suất sinh thô 24,5 %o, tỉ lệ phát triển dân số tự nhiên 2,02%. Dân số trung bình là 1.214.329 người tăng gấp đôi so với năm 1960, trước đó 30 năm.

2. Từ năm 1992 đến 2000

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về chính sách DS-KHHGĐ, tỉnh Bến Tre đã triển khai thực hiện hai Chiến lược DS-KHHGĐ quan trọng là: Chiến lược DS-KHHGĐ giai đoạn 1993-1995; Chiến lược DS-KHHGĐ giai đoạn 1996-2000 đã đạt nhiều thành tựu đáng kể. Đến năm 2000, tỉ suất sinh thô từ 22,62 %o (1992) còn 16,66 %o; Tỉ lệ con thứ 3 trở lên còn 6,99%; Tỉ lệ phát triển dân số tự nhiên từ 1,9% còn 1,14%; Tổng tỉ suất sinh từ 2,9 con/phụ nữ còn 1,9 con/phụ nữ.

Giai đoạn này, nhiều chủ trương chính sách quan trọng của Tỉnh ủy, UBND tỉnh về hoàn thiện tổ chức bộ máy, quy định lề lối làm việc, trách nhiệm quyền hạn của các thành viên Ủy ban DS-KHHGĐ tỉnh; Huy động toàn xã hội tham gia công tác dân số; Chính sách bảo trợ cho đội ngũ cán bộ DS-KHHGĐ ở cơ sở (chuyên trách và cộng tác viên dân số) không hưởng lương; Chính sách về khen thưởng, động viên, cũng như hỗ trợ, bồi dưỡng cho đối tượng và người làm công tác DS-KHHGĐ… đã được ban hành và thực thi đã có tác động mạnh mẽ đến kết quả của công tác DS - KHHGĐ. Đáng kể là kết quả về giảm tỷ suất sinh và giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên đã góp phần tích cực vào việc cải thiện đời sống vật chất, nâng cao sức khỏe, đời sống tinh thần của nhân dân. Những thành quả quan trọng kể trên của tỉnh đã được Chính phủ ghi nhận. Trong đó có xã Phú Khương, thị xã Bến Tre được Bằng khen của Thủ tướng Chính Phủ, Huân chương lao động hạng ba về các thành tích DS-KHHGĐ.

3. Giai đoạn 2001-2010

Giai đoạn này, toàn tỉnh tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm thực hiện Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010 và đạt được những thành tựu quan trọng về giảm sinh, cũng như những kết quả bước đầu trong việc triển khai các mô hình nâng cao chất lượng dân số tương ứng với mức giảm sinh: Tỷ suất sinh giảm từ 12,36%o (năm 2001) còn 10,41%o (năm 2010), bình quân mỗi năm giảm 0,19%o; Tỷ lệ con thứ 3 trở lên hàng năm giảm trung bình 0,32% (từ  6,99% còn 4,24%), góp phần đưa tổng tỷ suất sinh (TFR), tức số con bình quân của một phụ nữ trong tuổi sinh sản vào năm 2010 thấp hơn mức sinh thay thế, tức dưới 2,1 con/phụ nữ; Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong diện tuổi sinh đẻ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại chiếm 77,56%, tăng bình quân mỗi năm 0,53%. Cơ cấu các biện pháp tránh thai hiện đại cũng tăng theo hướng tích cực, trong đó các biện pháp tránh thai có hiệu quả cao (dụng cụ tử cung, triệt sản, thuốc tiêm, thuốc cấy) chiếm tỷ trọng 73,32%  trong tổng số người đang sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại.

Đây cũng là giai đoạn ngành DS-KHHGĐ chủ trì phối hợp với các ban ngành liên quan triển khai bước đầu các mô hình nâng cao chất lượng dân số như: Mô hình “Lồng ghép dân số với phát triển gia đình bền vững”, còn có tên gọi khác là dự án “Tín dụng - Gia đình”, mô hình “Kiểm tra sức khỏe và tư vấn tiền hôn nhân”. Triển khai các hoạt động nâng cao chất lượng thông tin, dữ liệu dân cư (còn gọi Hệ cơ sở dữ liệu về dân cư) phục vụ cho các yêu cầu hoạch định chính sách phát triển KT-XH của địa phương. Phối hợp thực hiện các hợp phần về truyền thông chuyển đổi hành vi trong lĩnh vực DS/SKSS, phòng chống bạo lực gia đình thuộc dự án UNFPA triển khai tại tỉnh…góp phần duy trì những kết quả DS-KHHGĐ đã đạt được, bảo đảm các mục tiêu Chiến lược DS-KHHGĐ đề ra.

Trong giai đoạn này cũng có các sự kiện quan trọng là: Ủy ban DS-KHHGĐ hợp nhất với Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em với tên gọi mới là Ủy ban Dân số - Gia đình và Trẻ em (năm 2001). Giải thể Ủy ban Dân số - Gia đình và Trẻ em (năm 2008) thành lập Chi cục DS-KHHGĐ, trực thuộc Sở Y tế đến nay. Tuy có biến động nhưng bộ máy làm DS-KHHGĐ các cấp liên tục được giữ vững, cũng cố hoàn thiện và thực sự trở thành một tổ chức tham mưu tích cực và có hiệu quả cho lãnh đạo các cấp trong lĩnh vực Dân số-KHHGĐ.

Kết quả Tổng điều tra dân số toàn quốc vào năm 2009, Bến Tre được Trung ương đánh giá là 1 trong 9 tỉnh/thành phố có tỷ suất sinh thô (CBR) thấp nhất, đồng thời cũng là một trong mười  tỉnh/thành phố có tổng tỉ suất sinh (TFR) thấp nhất nước.

4. Từ năm 2011 đến nay.

Trên cơ sở những kết quả đạt được, từ năm 2011 công tác DS-KHHGĐ tỉnh Bến Tre đã từng bước đẩy mạnh việc chuyển trọng từ DS-KHHGĐ sang Dân số và Phát triển với việc triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý, cải thiện cơ cấu dân số và chất lượng dân số phục vụ cho yêu cầu công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước. Theo đó, mức sinh thấp được duy trì khá ổn định trong nhiều năm. Từ năm 2011 đến nay, tỷ suất sinh có dao động nhưng không dưới 8%o và vượt quá 10%o, tỷ lệ con thứ 3 trở lên luôn được duy trì ở mức dưới 4% và tỷ lệ cặp vợ chồng sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại trung bình ở mức từ 73% đến 74%. Mức sinh thay thế theo đó cũng liên tục được giữ vững ở mức dưới 2 con/phụ nữ trong nhiều năm.

 


 Lấy máu gót chân tầm soát sơ sinh

Cũng từ năm 2011, toàn tỉnh đã bắt đầu triển khai chương trình chẩn đoán trước sinh và sơ sinh để tầm soát, phát hiện, điều trị sớm các dị tật bẩm sinh ở thai nhi và các bệnh về rối loạn chuyển hóa ở trẻ sơ sinh; Tiếp tục nhân rộng mô hình “Khám sức khỏe và tư vấn trước hôn nhân” đã triển khai trong giai đoạn trước nhằm góp phần nâng cao chất lượng dân số. Tăng cường hỗ trợ các mô hình truyền thông dân số trong cộng đồng triển khai các hoạt động quản lý, truyền thông, tiến tới kiểm soát tỷ số giới tính khi sinh; Phối hợp triển khai các mô hình chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng như: mô hình “Câu lạc bộ người cao tuổi giúp người cao tuổi” và mô hình “Câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau” nhằm giải quyết các vấn đề về cơ cấu dân số đặt ra.

 Đến năm 2015, có 100% số xã phường trong tỉnh đã triển khai hoàn tất chương trình chẩn đoán trước sinh và sơ sinh. Đến năm 2018 kết quả thực hiện chẩn đoán trước sinh và sơ sinh đạt tỷ lệ trên 58,86% số phụ nữ mang thai và 89,81% số trẻ em mới sinh, vượt chỉ tiêu đề ra đến năm 2020; Có 75 xã, phường chiếm tỷ lệ gần 46% số xã, phường triển khai mô hình “Khám sức khỏe và tư vấn tiền hôn nhân” với số thanh niên khám sức khỏe trước khi kết hôn lên đến trên 700 trường hợp/năm, đạt mức trung bình từ 10% đến 15% so với tổng số kết hôn; Có 33 xã, chiếm tỷ lệ 20% số xã, phường trong toàn tỉnh triển khai mô hình chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng, đồng thời thành lập được 34 câu lạc bộ chăm sóc người cao tuổi có trên 1.660 thành viên. Tỷ số giới tính khi sinh được kiểm soát ở mức 107 trẻ em trai/100 trẻ em gái so với trị số bình thường, từ 103-106 trẻ em trai/100 trẻ em gái. Lực lượng dân số tuổi lao động, từ 15-69 tuổi chiếm tỷ trọng 70% dân số và tỷ số phụ thuộc chung ở mức 42%. Ở mức này dân số Bến Tre hiện đang tiếp tục ở trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng.

Đặc biệt vào năm 2015 đã đánh dấu thêm một bước trưởng thành quan trọng của ngành DS-KHHGĐ tỉnh với việc chủ động tham mưu cho UBND ban hành đề án “Duy trì mức sinh thấp hợp lý” tỉnh Bến Tre, giai đoạn 2015-2020 nhằm giải quyết các vấn về quy mô dân số, cơ cấu dân số và chất lượng dân số sát với thực tiễn tình hình dân số của Bến Tre. Một trong những mục tiêu quan trọng của đề án là nâng tỷ lệ sinh con thứ 2 hàng năm 5% nhằm bảo đảm nguồn lực lao động phục vụ cho yêu cầu phát triển trong tương lai. Qua 3 năm thực hiện đề án, tỷ lệ con thứ 2 từ 30,5% (2014) đã được nâng lên 46,26% (2018), mức tăng trung bình gần 4%/năm.

Qua các chặng đường, công tác dân số tỉnh Bến Tre không ngừng kiện toàn tổ chức bộ máy; tăng cường thực hiện chính sách, đồng thời đẩy mạnh các họat động truyền thông giáo dục chuyển đổi hành vi về DS-SKSS-KHHGĐ và luôn để lại những dấu ấn quan trọng. Đặc biệt, với việc chủ động chuyển trọng tâm DS-KHHGĐ sang dân số và phát triển từ năm 2010, công tác dân số tỉnh nhà không chỉ đáp ứng yêu cầu thực tiễn về mức sinh thấp của của địa phương mà còn phù hợp với xu thế phát triển của công tác dân số trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết số 21-NQ-TW vào năm 2017 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về DS-KHHGĐ.

Mỗi dấu ấn trên mỗi chặng đường cũng là động lực để thúc đẩy toàn ngành tiếp tục tiến lên nhằm đạt những mục tiêu lớn hơn, quan trọng hơn về DS/SKSS/KHHGĐ./.

                                                                                                                                Kim Nguyên

frame_bgBR
Thăm dò ý kiến
Mong muốn của anh chị về giới tính khi sinh?
Con trai hoặc gái đều được
Là con trai
Là con gái